Chúa Nhật III Phục Sinh - Năm A

Lòng chúng ta đã chẳng cảm thấy bừng nóng lên hay sao?

Lm. Giacôbê Phạm văn Phượng, OP.

Phụng Vụ Lời Chúa chủ đề "Thày là sự sống lại"

Hôm nay là Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Phục Sinh. Phụng Vụ Lời Chúa của cả ba chu kỳ A, B, C vẫn còn theo chủ đề "Thày là sự sống lại". Bởi vì, Phúc Âm của cả ba chu kỳ vẫn còn thuật lại việc Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra với thành phần môn đệ của Người. Tuy nhiên, nếu hai tuần trước, cả ba chu kỳ chỉ có một bài Phúc Âm duy nhất giống nhau theo Thánh Gioan, thì tuần này, mỗi chu kỳ thuật lại một biến cố hiện ra khác nhau của Chúa Giêsu. Ở chu kỳ Năm A, Phúc Âm theo Thánh Luca thuật lại biến cố Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ đang đi về làng Emmau. Ở chu kỳ Năm B, cũng cùng đoạn Phúc Âm Thánh Luca như trong chu kỳ Năm A, song thuật tiếp biến cố Chúa Giêsu hiện ra với chung 11 vị tông đồ sau khi hai môn đệ được Chúa hiện ra trên đường đi Emmau trở về thuật lại việc họ đã gặp Chúa. Chu kỳ Năm C lại không theo Phúc Âm Thánh Luca là Phúc Âm chính của chu kỳ của mình, chẳng hạn như một trong hai bài Phúc Âm Thánh Luca được đọc trong chu kỳ Năm A và B của chính ngày Chúa Nhật hôm nay, mà lại theo Phúc Âm Thánh Gioan, đoạn trình thuật về biến cố Chúa Giêsu hiện ra với 7 vị tông đồ trên bờ biển hồ Tibêria. Như thế chúng ta thấy Giáo Hội cố ý muốn cho con cái mình thấy được hết những lần Chúa Giêsu hiện ra sau khi Người phục sinh từ trong cõi chết.

Thật ra, trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh, Giáo Hội đã cho đọc thứ tự những lần Chúa Giêsu hiện ra sau khi Người từ trong cõi chết sống lại rồi. Ngày Thứ Hai, Phúc Âm theo Thánh Mathêu về việc Người hiện ra với các phụ nữ đang trên đường chạy về báo tin cho các tông đồ, (cũng là bài Phúc Âm cho Lễ Vọng Chúa Nhật Phục Sinh của chu kỳ Năm A). Ngày Thứ Ba, Phúc Âm theo Thánh Gioan về việc Người hiện ra với riêng Mai-Đệ-Liên đang khóc tìm Chúa ngoài mộ, (chắc chị muốn một mình ở lại ngoài mồ để tìm Chúa nên không cùng với các bà khác chạy về báo tin cho các tông đồ). Ngày Thứ Tư, Phúc Âm theo Thánh Luca về việc Người hiện ra với hai môn đệ đi về làng Emmau, (cũng là bài Phúc Âm cho Chúa Nhật III Mùa Phục Sinh chu kỳ Năm A). Ngày Thứ Năm, Phúc Âm theo Thánh Luca thuật tiếp về việc Chúa Giêsu hiện ra với các vị tông đồ trong khi các vị được hai môn đệ đi Emmau về thuật lại cho biết, (cũng là bài Phúc Âm cho Chúa Nhật III Mùa Phục Sinh chu kỳ Năm B). Ngày Thứ Sáu, Phúc Âm theo Thánh Gioan về việc Chúa Giêsu hiện ra với 7 tông đồ trên bờ biển hồ Tibêria, (cũng là bài Phúc Âm cho Chúa Nhật III Mùa Phục Sinh chu kỳ Năm C). Ngày Thứ Bảy, Phúc Âm theo Thánh Marcô, đoạn Phúc Âm tổng liệt kê thứ tự những lần Chúa Giêsu hiện ra (như đã được lần lượt thuật lại ở những ngày trước trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh), với Mai-Đệ-Liên, với hai môn đệ đi Emmau và với các tông đồ. Ngày Thứ Tám, Phúc Âm theo Thánh Gioan về việc Chúa Giêsu hiện ra "một tuần sau" để chứng tỏ cho tông đồ Tôma thấy rằng Người đã thực sự sống lại, như các tông đồ khác đã thấy trong lần Người hiện ra với các vị ấy vào "ngày thứ nhất trong tuần", và các vị ấy đã thuật lại cho Tôma hay, song Tôma không chịu tin, (cũng là bài Phúc Âm cho Chúa Nhật II Mùa Phục Sinh cho cả ba chu kỳ A, B và C).

Nếu tuần tới, Chúa Nhật IV Mùa Phục Sinh, không còn bài Phúc Âm nào nói đến việc Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra nữa, mà là những bài Phúc Âm liên quan đến chủ đề "Thày là Sự Sống", thì Phụng Vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật này cần phải bao gồm những bài Phúc Âm liên quan đến các lần Chua Giêsu hiện ra còn lại, những lần hiện ra chưa được đọc trong các Chúa Nhật của Mùa Phục Sinh trước đây. Vẫn biết việc Chúa Giêsu hiện ra được thuật lại trong ba bài Phúc Âm tuần này, theo thứ tự thời gian, như trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh cho thấy, xẩy ra trước việc Chúa Giêsu hiện ra "một tuần sau" để tỏ mình cho tông đồ Tôma, trong bài Phúc Âm của Chúa Nhật II Phục Sinh tuần trước, nhưng vì bài Phúc Âm "một tuần sau" tuần trước đó lại rơi vào đúng thời điểm "một tuần sau" của mình theo thời gian phụng vụ, nên cần phải đọc trước bài Phúc Âm tuần này. Bởi thế, chúng ta cũng không thấy Giáo Hội lấy bài Phúc Âm của Thánh Gioan được mở đầu bằng câu "vào ngày thứ nhất trong tuần" cho chính ngày Chúa Nhật Phục Sinh. Vì đoạn Phúc Âm "vào ngày thứ nhất trong tuần" này có liên quan hết sức mật thiết với đoạn Phúc Âm "một tuần sau", nên Giáo Hội đã cho đọc cả hai đoạn Phúc Âm dính dáng với nhau này chung trong Chúa Nhật II Phục Sinh ở cả ba chu kỳ A, B và C.

Ý Nghĩa của Dấu Hiệu Bẻ Bánh trong lần Tỏ Mình cho hai môn đệ đi Emmau

Trong trình thuật Phúc Âm của Thánh Luca về hai môn đệ về làng Emmau cho Chúa Nhật III Mùa Phục Sinh hôm nay, chúng ta thấy dấu hiệu chính yếu Chúa Giêsu Phục Sinh sử dụng để tỏ mình ra cho các vị này là việc Người bẻ bánh. Thế nhưng, nếu việc bẻ bánh và lúc bẻ bánh là việc và là lúc tuyệt đỉnh của việc Người tỏ mình ra cho hai vị này, thì trước đó Người đã sửa soạn cho họ từ từ tiến đến điểm tuyệt đỉnh mạc khải này rồi. Ở chỗ, Người đã đến nhập cuộc với họ, đi bên họ một quãng đường, và lợi dụng quãng đường hành trình phiền muộn này để giải tỏa tâm trạng bối rối của họ. Đây là đường lối cố hữu Chúa Giêsu vẫn thường dùng để tỏ mình ra một cách tư riêng với một số người, như với người phụ nữ Samaritanô ngoại lai trong Phúc Âm Chúa Nhật Thứ Ba Mùa Chay Năm A, hay như với người mù từ lúc mới sinh trong bài Phúc Âm Chúa Nhật Thứ Tư Mùa Chay Năm A.

Nếu trong trường hợp của người phụ nữ Samaritanô và người mù từ lúc mới sinh, Chúa Giêsu đã lợi dụng ngay chính hoàn cảnh sống thực tế của họ để gặp gỡ họ thế nào, như việc ra giếng kín nước uống của người phụ nữ Samaritanô, hay như tình trạng bị mù lòa của người mù từ lúc mới sinh, Người cũng đã lợi dụng cuộc hành trình của hai môn đệ đi Emmau để gặp gỡ các vị như thế.

Nếu Chúa Giêsu đã tự động khai mào cho việc Người cố ý muốn gặp gỡ thành phần Người cần phải tỏ mình ra cho, bằng những gì liên quan trực tiếp đến con người của họ, như việc Người xin phụ nữ Samaritanô nước uống, hay như việc Người chữa lành chứng mù lòa cho người mù từ lúc mới sinh, thì Người cũng mở màn cho cuộc gặp gỡ giữa Người và hai vị môn đệ này bằng chính câu hỏi liên quan trực tiếp đến chính tâm trạng phiền sầu bối rối của các vị.

Nếu tác động ngay trước khi tỏ mình ra là ai, nơi trường hợp với phụ nữ Samaritanô, Chúa Giêsu đã chạm đến đời tư tội lỗi của chị phụ nữ này thế nào: "Hãy về gọi chồng chị ra đây", và nơi trường hợp với người mù từ lúc mới sinh, Người đã chạm đến chính tấm lòng rất chân thành của anh ta, bằng câu hỏi "anh có tin Con Người không?", thì nơi trường hợp hai môn đệ về Emmau, Người cũng đã lợi dụng lòng thành của họ mời Người ở lại với họ, và lợi dụng cả hoàn cảnh của một bữa tối để tỏ ra cho họ thấy Người, bằng một dấu hiệu hết sức quen thuộc với các vị, đó là "khi Người ngồi ăn với họ, Người đã cầm lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ". Phải, sở dĩ hai môn đệ này nhận ra Thày mình ngay lúc bấy giờ, như Phúc Âm hôm nay diễn tả: "Thấy thế, mắt họ mở ra và nhận ra Người", là vì chỉ có Thày mới làm như thế, mới làm cử chỉ này mỗi lần ăn uống với các môn đệ của Người mà thôi. Đặc biệt là hai lần Người đã làm cùng một cử chỉ này trước khi hóa bánh ra nhiều để nuôi đám dân chúng chịu khó đi theo nghe Người giảng trong hoang địa (xem Mt 14:19, 15:36). Nhất là lần Người chính thức thiết lập Bí Tích Thánh Thể (xem Mt 26:26).

Đến đây chúng ta có thể đặt vấn đề là tại sao Chúa Giêsu Phục Sinh không tỏ cho hai môn đệ này thấy Dấu Vết Tử Giá của Người, ngay sau khi họ trả lời câu Người hỏi họ lúc Người mới gặp họ, mà lại phải chờ cho tới lúc ngồi ăn với họ và lại phải dùng một dấu hiệu khác như thế? Như trên đã chia sẻ, tỏ mình ra cho thành phần nào, Chúa Giêsu đều lợi dụng hoàn cảnh của họ để làm cho họ dễ nhận ra Người hơn. Vả lại, việc tỏ các Dấu Vết Tử Giá của Người ra là một dấu hiệu hết sức đặc biệt và là một việc làm hết sức trịnh trọng, phải được làm ở một nơi thân tình nhất, trang trọng nhất, như ở Nhà Tiệc Ly, chứ không thể nào lại ở trên đường đi, hay ở trong một quán ăn xa lạ. Do đó, Chúa Giêsu đã giữ lại những Dấu Hiệu Tử Giá tuyệt vời này để giành đến lúc chính thức tỏ mình ra cho chung các vị tông đồ của Người mà thôi, như bài Phúc Âm hôm nay của chu kỳ Năm B cho thấy.

Tuy nhiên, về phương diện tỏ mình ra, phương diện thần hiển (theophany), dấu hiệu nào Chúa dùng cũng đều có giá tri cao trọng, cũng đều đóng một vai trò quan trọng, và cũng đều có ý nghĩa sâu xa của nó. Như khu vực bên đường, nhờ ở chung quanh một bụi gai thần hiển bốc cháy mà không bị thiêu rụi, trong chốc lát đã nghiễm nhiên trở thành một "thánh địa" (Ex 3:5). Và chính bụi gai thần hiển bị bốc cháy mà không bị thiêu rụi có một ý nghĩa mạc khải sâu xa thế nào, thì việc Chúa Giêsu "cầm lấy bánh, chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ" trong bài Phúc Âm hôm nay làm nên Dấu Hiệu Phục Sinh của Người cũng có một ý nghĩa đặc biệt như vậy. Ý nghĩa đó là, như Người đã tuyên bố: "Tôi đến cho chiên được sự sống và được một sự sống viên mãn" (Jn 10:10), một sự sống Người sẽ thực sự bắt đầu thông ban cho Giáo Hội của Người, khi Người chính thức hiện ra với chung các tông đồ lần đầu tiên sau cuộc gặp gỡ hai môn đệ đi Emmau này. Đúng thế, vào lần hiện ra thứ nhất với chung các vị tông đồ, như bài Phúc Âm Thánh Luca Năm B hôm nay thuật lại, một bài Phúc Âm cũng được Thánh Gioan trình thuật về lần hiện ra "vào ngày thứ nhất trong tuần", Người đã "thở hơi trên các tông đồ mà phán: "Các con hãy nhận lấy Thánh Linh"" (Jn 20:22). Như thế, nói chung, bài Phúc Âm theo Thánh Luca cho Chúa Nhật II Mùa Phục Sinh đã đóng vai trò chuyển tiếp, từ chủ đề "Thày là sự sống lại" của ba tuần Phục Sinh đầu, sang chủ đề "Thày là sự sống" của bốn tuần Phục Sinh còn lại vậy.

Vấn đề thực hành sống đạo:

Phụng Vụ Lời Chúa cho chu kỳ Năm A còn một điểm đặc biệt nữa là, bài đọc một tuần trước và tuần này hơi ngược nhau. Trong khi bài đọc một tuần này, Sách Tông Vụ thuật lại việc tông đồ Phêrô cùng với 11 Vị trong Tông Đồ Đoàn bắt đầu Bài Giảng Tiên Khởi, thì bài đọc một tuần trước, Sách Tông Vụ thuật lại sinh hoạt và tình trạng "đồng tâm nhất trí" của Cộng Đồng Giáo Hội tiên khởi ở Giêrusalem, một cộng đồng chỉ được hình thành sau biến cố của Bài Giảng Tiên Khởi. Tại sao có sự ngược đời này? Phải chăng Giáo Hội cố ý sắp xếp như vậy là để nói lên cho thấy hai điều nồng cốt sau đây: Thứ nhất, Giáo Hội tự mình chính là Chứng Từ Thần Linh, và thứ hai, Chứng Từ Thần Linh này phải được bắt nguồn từ Đức Ái Trọn Hảo, từ Hiệp Nhất Yêu Thương, nhờ đó Chứng Từ Giáo Hội mới thực sự là Chứng Từ Thần Linh (xem Jn 13:35), và mới có thể sinh muôn vàn hoa trái (xem Jn 15:4,16).

Bởi thế, theo chiều hướng hiệp nhất truyền giáo này, Công Đồng Chung Vaticanô II (11/10/1962-8/12/1965) mới phát động việc Đại Kết Kitô Giáo, một việc được giáo triều Đức Gioan Phaolô II (22/10/1978-?) hết sức nỗ lực đẩy mạnh, để có thể thực hiện một cách hiệu nghiệm sứ vụ Truyền Bá Phúc Âm Hóa của Giáo Hội trong thế giới tân tiến ngày nay, một Giáo Hội phải là gaudium et spes, cho một thế giới đang quay cuồng trong cơn lốc của "văn hóa tử vong". Nếu Chúa Giêsu Phục Sinh đã mang lại vui mừng và hy vọng cho hai môn đệ chán nản trên đường về Emmau ở bài Phúc Âm Năm A hôm nay thế nào, đã mang lại bình an cho những môn đệ đang lo sợ đóng cửa nhốt mình trong nhà ở bài Phúc Âm Năm B hôm nay ra sao, cũng như đã mang lại thành quả quá lòng mong ước cho 7 tông đồ chuyên nghiệp đánh cá thâu đêm mà chẳng bắt được gì trên biển hồ Tibêria ở bài Phúc Âm Năm C hôm nay thế nào, thì Kitô hữu chúng ta cũng phải "là muối đất, là ánh sáng thế gian" (Mt 5:13,14) như vậy. Bởi vì, chúng ta đã lãnh nhận Phép Rửa và đã trở thành một "tạo vật mới" (2Cor 5:17; Gal 6:15). Nhất là vì trong cuộc đời làm môn đệ theo Chúa Kitô, có những lúc Người đã âm thầm tỏ mình ra cho chúng ta trong tăm tối và tư riêng (xem Mt 10:27), khiến cho "lòng chúng ta cảm thấy bừng nóng lên" như hai môn đệ về làng Emmau trong bài Phúc Âm hôm nay, những người môn đệ đã chạy về mang "vui mừng và hy vọng" đến cho nhóm của mình.

  trang suy niệm hằng tuần